Hàng hóa Trung Quốc hoành hành tại Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp

 

Như một phản hồi và bổ sung cho bài viết “Đương đầu với cuộc tổng tấn công hàng Trung Quốc” của Đoan Trang (1)

Việc hàng hóa Trung Quốc tràn ngập khắp thị trường Việt Nam không có gì mới mẻ. Từ mấy cái món đồ rẻ tiền như nón bảo hiểm, đồ điện tử gia dụng, mỹ phẩm, quần áo, dày dép… cho đến các công trình tiền tỉ tầm cỡ quốc gia như nhà máy bô xít, thủy điện, nhiệt điện, tàu điện trên cao… đều có sự hiện diện của anh bạn vàng phương Bắc này trong nỗi lo lắng về vấn đề chất lượng.

Nếu nói rằng “Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác” như phát biểu của ông giám đốc Đào Xuân Anh nào đó chuyên về kinh doanh hóa mỹ phẩm trong bài viết của blogger Đoan Trang thì thật là nguy hiểm. Chỉ cần nói theo ngành hẹp là ngành của ông này đang kinh doanh, một thực tế là ở Việt Nam, đố ai hằng ngày có đủ cơm ăn áo mặc và có chút kiến thức lại dám xài dầu gội đầu, dầu xả, dầu dưỡng tóc, thuốc nhuộm tóc… của Trung Quốc. Các sản phẩm loại này chỉ có thể bán ở các vùng thôn quê xa xôi nơi mà khả năng tiếp cận của người dân còn thấp, ít sự lựa chọn, hoặc bán cho những chủ tiệm hám lời rồi dùng chung với các sản phẩm khác. Nói rộng ra, bất kỳ các sản phẩm nào nếu là hàng Trung Quốc xuất qua Việt Nam thì không mấy ai dám khẳng định đó là hàng giá rẻ chất lượng cao.

Người tiêu dùng chúng ta có thể yên tâm sử dụng một món hàng mang về từ Âu/Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc, tuy nhiên với sản phẩm tương tự của Trung Quốc mua ở Việt Nam thì chắc chắn rằng nó không thể nào có phẩm chất tương đương. Lý do tại sao? Các quốc gia phát triển có một hệ thống pháp lý và tiêu chuẩn chất lượng cho những chủng loại hàng hóa khác nhau rất chặt chẽ và hoàn chỉnh. Hàng Trung Quốc hay bất kỳ từ các nước khác muốn thâm nhập vào thị trường này phải thỏa mãn các tiêu chuẩn của nước sở tại. Do đó người tiêu dùng được bảo vệ và có thể yên tâm khi biết rằng món hàng mình mua đã qua những điều kiện về kiểm định đạt chuẩn an toàn cho sử dụng.

Nhập siêu kỷ lục và vấn đề chất lượng của hàng Trung Quốc tại Việt Nam

Không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới đều lo lắng trình trạng nhập siêu với Trung Quốc. Trung Quốc là đại công trường gia công và sản xuất hàng hóa cho cả thế giới trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó việc nhập khẩu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất là điều rất khó hạn chế. Tuy nhiên chúng ta nhập khẩu hầu như mọi thứ từ cái thiết yếu cho đến cái không cần thiết từ Trung Quốc, trong khi đó xuất khẩu chỉ tập trung vào các loại hàng nông sản, thủy sản, nguyên liệu thô, khoáng sản thô (bô xít, quặng sắt, titan…) có giá trị không tương xứng cho nên cán cân thương mại bị thâm hụt nặng nề là điều dễ hiểu. Chỉ có những công ty nước ngoài ở Việt Nam (thường ở trong các khu công nghiệp, chế xuất) mới có khả năng xuất các mặt hàng công nghệ có giá trị cao đi Trung Quốc. Do nhập khẩu mọi thứ cho nên khâu sản xuất trong nước bị trì trệ, làm tăng các khoản vay từ nước ngoài và đồng tiền quốc gia bị suy yếu.

Một mối lo lớn không thua việc nhập siêu là chất lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam rất kém do tiêu chuẩn trên các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam chưa đầy đủ và đi sau thế giới. Một khi sản phẩm nào đó bị phát hiện có vấn đề ở nước ngoài thì chúng ta mới chạy theo kiểm định và thu hồi. Do đặc điểm về địa lý với hàng ngàn km đường biên giới chung giữa hai nước, nên hàng lậu cũng chảy vào Việt Nam ngày đêm. Nắm được các yếu điểm này, nên đa phần các nhà sản xuất Trung Quốc dùng Việt Nam như là một sân sau để tiêu thụ hàng kém chất lượng với sự tiếp tay của con buôn nội địa. Vì thế cho dù cùng mất tiền để nhập khẩu nhưng chúng ta lại mang về cái của nợ để người dân nghèo phải tiêu thụ giùm cho bọn chúng và đánh đổi trên tài sản, sức khỏe và sự an toàn của họ.

Doanh nghiệp sản xuất Việt Nam nhỏ lẻ và đơn độc

Trước khi tính đến chuyện xuất khẩu thì các doanh nghiệp sản xuất phải tính đến việc chiếm lĩnh được thị trường trong nước. Khi người dân đã quen và chuộng hàng nội địa thì hàng nhập khẩu sẽ bị đẩy lùi. Để dành được thị phần trên chính sân nhà là điều không hề đơn giản vì doanh nghiệp phải cạnh tranh với mặt hàng cùng chủng hoại được nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhưng việc cạnh tranh này mang dáng vẻ bất bình đẳng vì các công ty bên Trung Quốc hình thành một mạng lưới làm việc với nhau rất chặt chẽ. Một nhà máy sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh thì có vài nhà máy cung ứng các phụ kiện nằm xung quanh cho nên họ có tính chuyên nghiệp rất cao. Do có nhiều công ty nước ngoài đặt tại Trung Quốc, các “điệp viên kinh tế” được cài cắm vào đây để học hỏi và lấy cắp công nghệ cho nên năng lực sản xuất của họ cũng được cải tiến nhiều… Trong khi ở Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất đa phần “đơn thương độc mã” tự phải lo từ đầu đến cuối. Những phụ kiện đúng tiêu chuẩn tìm ở thị trường nội địa rất khó nên cũng phải nhập khẩu thì quả là rất khó khăn. Đầu năm 2011, báo chí cũng đăng tin khi Canon vào Việt Nam, chính họ phải đi tìm các đối tác có thể cung cấp các chi tiết phụ trợ cho sản phẩm đang làm nhưng đành bó tay và các chi tiết hầu hết phải nhập khẩu làm giá thành tăng cao (2).

Vấn đề bất lợi đã nêu của doanh nghiệp Việt Nam là nói trên cái ưu thế tự có của doanh nghiệp Trung Quốc. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khác: Hải quan nhũng nhiễu, nạn tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà, mức thuế suất chưa hợp lý, cơ sở hạ tầng kém… rồi đến chuyện hàng lậu tràn vào ồ ạt qua các cửa khẩu, đường tiểu ngạch… đã làm nản lòng cho những ai có tâm huyết nên đa phần đều tính chuyện nhập khẩu bán kiếm lời hơn là đầu tư cho sản xuất.

Do đó thật buồn cười khi nghe chuyên gia kinh tế Bùi Trinh phát biểu “Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” như một cách đổ lỗi cho nhà sản xuất nội địa không lo cho sản xuất mà không biết được nguyên nhân vì đâu. Đã làm kinh tế, không ai mà không muốn làm ra nhiều hàng hóa cung cấp cho thị trường khi có nhu cầu nhưng trong trường hợp này càng làm ra càng nhiều thì càng thiệt hại do cạnh tranh không lại với hàng Trung Quốc.

Nhà nước cần giải quyết ngay những vấn nạn và đề ra chiến lược lâu dài

Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho sản xuất, họ rất cần một môi trường cạnh tranh công bằng ngay chính trên mảnh đất của mình. Tham nhũng, hối lộ, sách nhiễu… sẽ tạo ra thuận lợi tạm thời cho doanh nghiệp này và giết chết doanh nghiệp khác. Vấn đề sở hữu trí tuệ phải được pháp luật bảo vệ mạnh mẽ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới. Cần phải mạnh tay với hàng lậu, hàng giả… để bảo vệ thị trường lành mạnh.

Tiêu chuẩn cho các sản phẩm được phép lưu hành ở Việt Nam phải chặt chẽ và đầy đủ. Ví dụ “Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồ chơi trẻ em” QCVN 3:2009/BKHCN được ban hành tuy nhiên ở mục 2.1.4 “Yêu cầu đối với đồ chơi trẻ em dùng điện” còn quá sơ sài. Đã có qui định pháp luật rằng hàng không hợp chuẩn thì không được lưu hành nhưng rồi chẳng được thực hiện nghiêm. Vì thế hiện nay nhiều đồ chơi trẻ em không dán nhãn hợp chuẩn vẫn bán tràn lan bất chấp luật lệ của nhà nước.

Chúng ta không cần phải nghĩ ra điều gì mới mẻ nhưng có thể học từ tiêu chuẩn của các nước phát triển. Khi hàng rào tiêu chuẩn được dựng lên, hàng hóa kém chất lượng sẽ dần lùi bước và người dân phần nào được bảo vệ.

Về chiến lược dài hạn, Trung Quốc không ngẫu nhiên có được vị trí của nhà xuất khẩu hàng đầu như hiện nay nếu như trong quá khứ họ không mở các đặc khu kinh tế. Về bản chất các “đặc khu kinh tế” được điều hành không khác gì mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tạo tiền đề cho việc đẩy nhanh cải cách kinh tế. Ở Việt Nam, các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng mang lại nhiều thành công lớn (nhất là tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…) tuy nhiên đây chỉ là nơi cho thuê đất mở công ty, xí nghiệp chứ không phải là “đặc khu kinh tế” có cơ chế riêng, cho nên vẫn chưa phát triển mạnh mẽ do bị ràng buộc bởi nhiều định chế. Ví dụ trước kia một công ty trong khu chế xuất (Export Processing Zone) muốn bán hàng vào thị trường nội địa thì không thể, hiện nay được biết là đã được phép nhưng thủ tục không hề đơn giản. Cách làm của các doanh nghiệp là họ sẽ xuất sang một nước khác (như Hong Kong hay Singapore) rồi sau đó lại nhập vào Việt Nam, do đó chi phí đã tăng lên rất cao khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng.

Nói cách khác, cần một nền kinh tế thực sự cởi mở và uyển chuyển hơn để kích thích đầu tư và phát triển. Nhưng nếu chúng ta học một mô hình từ đâu đó và bắt chước thì suốt đời vẫn mãi là người đi theo sau.

Để xây dựng sản phẩm thương hiệu Việt Nam và đẩy lùi tình trang thâm thủng mậu dịch, nhà nước cần thể hiện vai trò nhạc trưởng để huy động hết các nguồn lực nhân dân.

Những “đại gia”, những “ông bầu” ở Việt Nam đã tạo dựng được cơ nghiệp đồ sộ trong thời gian ngắn thì thật là đáng nể. Tuy nhiên rất ít người trong số đó làm ra những sản phẩm có thể bán rộng rãi đến tay người dân, càng hiếm hơn các đại gia sở hữu được sản phẩm kỹ thuật cao để bán ra nước ngoài. Nhưng nếu có sự định hướng rõ ràng của nhà nước, đề ra các ngành trọng điểm, chắc rằng các ông bầu này thay vì đầu tư nhiều vào địa ốc, phá rừng làm thủy điện, khai khoáng, làm bóng đá mua vui… biết đâu họ sẽ đầu tư nghiêm túc vào công việc nghiên cứu & phát triển để tương lai ra đời các sản phẩm mang thương hiệu quôc gia.

Lòng yêu nước của người dân cũng cần được giáo dục và thể hiện qua việc dùng hàng nội địa. Người Hàn Quốc khi mua xe thì luôn trung thành với Hyundai hay KIA, du khách qua Nhật khi ham một món hàng rẻ thì được hướng dẫn viên khuyên đó là “Chinese things” hay “Chinese stuff”, đừng có mua. Những điều đó đâu phải bản tính ngẫu nhiên, mà có lẽ được tuyên truyền và dạy bảo từ khi còn nhỏ, qua nhiều thế hệ mới hình thành nên bản sắc dân tộc như thế.

Bản thân người viết, một lần được dẫn vào siêu thị Walmart ở Thâm Quyến, giữa muôn trùng hàng hóa do Trung Quốc sản xuất được bày bán ở đây, chợt thấy có một kệ hàng trưng bày sản phẩm mít sấy khô, bao giấy màu tím/vàng của Vinamít, trong lòng chợt bồi hồi khôn tả nên vội vàng kêu vài người bạn cùng đến xem. Ai nấy cũng mừng mừng tủi tủi.

Niềm ước mong hội nhập và khẳng định chính là khát vọng của mỗi người chúng ta.

Tham khảo:

(1.)  http://trangridiculous.blogspot.com/2011/09/uong-au-voi-cuoc-tong-tan-cong-cua-hang.html

(2.)  http://vef.vn/2011-04-20-tim-20-dn-viet-nam-khong-mua-noi-cai-oc-vit

(3.)  http://www.crmark.vn/FileUpload/Documents/Do%20choi%20tre%20em/Bo%20KHCN/QCVN%2003-%20Do%20Choi%20tre%20em.pdf

Advertisements

Về Thời Sự Công Nghệ
Chấp nhận thay đổi hay lạc hậu muôn đời!

4 Responses to Hàng hóa Trung Quốc hoành hành tại Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp

  1. Pingback: Tin Chủ Nhật, 16-10-2011 « BA SÀM

  2. Pingback: Tin Chủ Nhật, 16-10-2011 | Dahanhkhach's Blog

  3. Pingback: Anhbasam Điểm Tin Chủ Nhật, 16-10-2011 | bahaidao

  4. Pingback: nurmaniamnsz

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: