Những giới hạn trong các bài viết về điện tử hiện nay tại Việt Nam

“Lời quê góp nhặt dông dài…” – Nguyễn Du

Chúng ta được biết các tờ báo lớn ở đều phân chia người phụ trách các chuyên đề theo kiểu “người nào việc đó”. Có cây bút chuyên về chính trị-xã hội, có người thì chuyên về luật pháp, người khác thì chuyên về thể thao… do đó khi bài viết được đăng lên, trước hết nó “sạch nước cản”, tiếp theo là tạo sự chú ý, tò mò cho người đọc. Ngay cả các đề tài về khoa học công nghệ, bản thân nó vốn khô cứng, tuy nhiên với sự am tường và dí dỏm của mình, một số người khi đăng đàn cũng tạo sự hứng thú theo dõi của độc giả. Nếu một trong số chúng ta có ai từng theo dõi các buổi giới thiệu của ngài Steven Jobs(1) về sản phẩm mới, chắc hẳn không quên được cách trình bày rất rõ ràng, mạch lạc vài gần gũi của ông. Buổi nói chuyện này đã thu hút hàng triệu triệu con người trên toàn thế giới lắng nghe. Kỹ thuật và cuộc sống là hai phần không thể tách rời nhau. Kỹ thuật chân chính được sinh ra với mục đích vì cuộc sống và vì con người.

Gần đây khi đọc một số bài báo của các phóng viên viết về một nhân vật, một công ty, một sự kiện nổi bật… về điện tử, không chỉ những người trong nghề không thể không cảm thấy chối tai mà chắc rằng nhân vật trong báo khi xem lại bài viết về mình cũng không thể không cảm thấy thẹn thùng. Qua những bài báo này chứng tỏ một điều người viết có quá ít kiến thức về kỹ thuật, chủ yếu chỉ nghe và thuật lại, đồng thời dùng phát biểu của người trong cuộc như là một tuyên bố chính về điều mình muốn đưa ra. Hoàn toàn thiếu ý kiến phản biện của người viết cho nên tạo ra cảm giác lạt lẽo trong suốt bài viết.
Biết làm sao bây giờ khi “người biết thì không ra tay”, hoặc do cách giáo dục của ta, đa phần “giỏi toán thì dở văn” nên mới dẫn đến việc người không biết thì thưa thốt, người biết thì dựa cột mà nghe.
Nói có sách mách có chứng, hôm nay đọc bài “Người khởi xướng RIFD” của tác giả TVC của trang e-media.vn (http://www.e-media.vn/news/doanh-nhan-and-doanh-nghiep/nguoi-khoi-xuong-rifd/3073/) mà tôi sửng sốt. Là người yêu công nghệ và có lòng tự hào dân tộc, nên khi nghe nói đến một người Việt Nam khởi xướng một công nghệ mới nên tôi rất háo hức đọc. Tuy nhiên càng đọc tôi càng thấy thất vọng vì bài viết mang đầy đủ những giá trị kém cỏi như đã chỉ ra ở trên.
Bài này viết về anh Nguyễn Trọng Vũ (thường được biết dưới tên Vu Nguyen, từng là giám đốc của AMCC Việt Nam) và công ty Huy Hoàng (SplendID technology) do anh làm giám đốc. Tựa đề là như vậy nhưng khi đọc sâu vào bài viết mới biết là công ty Huy Hoàng có làm về RFID chứ không phải là RIFD. Điều này chứng tỏ bài viết quá cẩu thả hoặc không được biên tập kỹ khi đăng. Hơn nữa, nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu trên internet thì đều biết công nghệ tiền thân của RFID được manh nha từ rất lâu bắt đầu vào năm 1915 tại Anh, năm 1945 tại Nga, và Mario Cardullo được xem là người đầu tiên đưa ra các bằng sáng chế về RFID hiện đại năm 1971 tại US(2). Vì thế, nói anh Nguyễn Trọng Vũ là người khởi xướng RFID là quá lộng ngôn và coi thường các bậc tiền bối trong lĩnh vực này. Hơn thế nữa cho dù anh Nguyễn Trọng Vũ có là người đầu tiên làm về RFID tại Việt Nam thì điều đó chẳng có giá trị gì nếu đội ngũ đó không làm ra được sản phẩm tốt và được người dùng chấp nhận. Cái để đánh giá và được ca ngợi hay không là trên tiêu chí sản phẩm chứ không phải là “người khởi xướng công nghệ” như cách qui nạp của tác giả. Tôi hy vọng công ty SplendID sẽ làm được nhiều sản phẩm về RFID tốt để làm rạng danh các sản phẩm điện tử từ Việt Nam.
Sau cái phần tựa đề hoành tráng đó, tác giả TVC tiếp tục phong cho anh Nguyễn Trọng Vũ là người “khai sáng công nghệ vi mạch tại Việt Nam” qua việc vận động công ty mẹ thành lập công ty AMCC Việt Nam và giúp thành lập 2 phòng thiết kế vi mạch tại đại học quốc gia TPHCM và Bách Khoa. Không biết tác giả TVC có hiểu vi mạch là cái gì và công nghệ vi mạch gồm những công đoạn nào không? Và trước đó ở Việt Nam đã có những công ty nào làm về lĩnh vực này chưa? Sau khi được anh Nguyễn Trọng Vũ khai sáng thì công nghệ vi mạch Việt Nam đang đứng ở chỗ nào trên thế giới? Nếu nói theo như tác giả là “khai sáng”, vậy thì vào những năm 1999-2000, công ty NLCVN(3) họ làm những công việc gì tại đây? Tiếp theo đó là ATVN(4) được thành lập từ năm 2001 đến nay họ đang làm gì? Những công ty như Renesas, SDS thành lập tại Việt nam từ năm nào và được tính vào đâu? AMCC Việt Nam so với các công ty đó đều bị xem là sinh sau đẻ muộn (thành lập năm 2008) thì hà cớ gì được gọi là khai sáng cho nền công nghệ vi mạch tại Việt Nam.
Liên quan đến việc do thiếu kiến thức về lĩnh vực này, người viết thường phải lặp lại những câu nói của người trong cuộc mà không có ý kiến chủ quan của mình, xin được trích dẫn các ý kiến của anh Nguyễn Trọng Vũ trong bài viết như sau:
– Năm 2007, Vũ về Việt Nam để tìm hiểu thị trường. Theo anh, Việt Nam có chi phí lao động rẻ và điều này sẽ kéo dài lâu hơn Trung Quốc vì nước này đang dần đắt đỏ hơn. Anh về Mỹ trình bày kế hoạch đặt nhà máy thiết kế và sản xuất của AMCC tại Việt Nam.
– Kinh nghiệm của anh là: “Dù bạn có thể xây dựng đội ngũ nhân viên kỹ thuật giỏi nhưng họ sẽ không ở với bạn nếu không bán được hàng. Muốn làm được điều đó cần có mối quan hệ và sự đồng tâm của nhân viên. Điều này cũng tương tự như đem 1 tỉ cổ phần nhân với số 0 vẫn là 0, tức việc nếu kinh doanh một mình sẽ không thành công. Nhưng nếu 1.000 cổ phấn nhân với 100.000 đồng thì sẽ ra 1 số tiền khá lớn”.
Liên quan đến các ý kiến này ta thấy có thể phản biện như sau:
– Một lãnh đạo làm về kỹ thuật cao như anh trở về quê hương của mình để thành lập công ty làm về vi mạch mà lại đặt vấn đề chi phí lao động giá rẻ lên trước tiên thì thật là đáng tiếc. Đa phần các công ty đầu tư vào Việt Nam hấp dẫn bởi nhân công giá rẻ là những công ty có kỹ thuật thấp như giày da, may mặc, đồ gỗ… họ vào Việt Nam để tận dụng sức lao động của những người không có tay nghề hoặc không có yêu cầu kỹ thuật cao. Còn với công ty có kỹ thuật cao, mức lương trả cho một người làm việc phải tương xứng với sự cống hiến của họ mới có thể duy trì được lâu dài. Lý do tiếp theo để chọn Việt Nam là vì Việt Nam có lao động giá rẻ hơn Trung Quốc cũng là điều thật đau lòng. Theo ý kiến của giáo sư Michael Porter(5), người từng đến Việt Nam năm 2008 và có nhiều bài phát biểu định hướng phát triển cho Việt Nam. Ông cho biết “Một quốc gia cho rằng lực lượng nhân công giá rẻ của mình là lợi thế cạnh tranh nghĩa là quốc gia đó đã chọn sự nghèo đói” đồng thời nêu quan điểm “Cần một hệ thống đào tạo nhân lực hiệu quả. Chất lượng nhân sự và sản phẩm mới là quan trọng hơn cả. Tính minh bạch sẽ giúp các doanh nghiệp, quốc gia biết mình là ai, đang đứng ở đâu để tìm cách phát triển”.
– Về phát biểu thứ 2 của anh, tôi thấy nó thật vụng về (clumsy). Về nghĩa đen của nó cũng có nhiều điều không rõ ràng. Sự trung thành của nhân viên có liên quan đến việc công ty bán được hàng hay không? Câu trả lời có thể có và cũng có thể là không. Rất nhiều chuyên gia bàn về cách giữ chân nhân viên (bạn cũng có thể có suy nghĩ cho riêng bạn), nhưng cách đề cập đến vấn đề này của anh rất lóng ngóng và buồn cười. Điều đáng nói là người viết đã quá chủ quan hoặc thụ động trong khi trích dẫn những câu nói này và xem như là một điều tất yếu.
Đất nước chúng ta vẫn là đất nước đang trên con đường hiện đại hóa, cũng đang loay hoay với cách tiếp nhận những xu hướng khác nhau về khoa học công nghệ. Những người có tâm huyết đóng góp cho sự phát triển chung là rất quí, đồng thời cũng giải quyết bao nhiêu công ăn việc làm kèm theo. Tuy nhiên nếu sớm tự mãn hoặc xem rằng “cả xứ mù thằng chột làm vua”, không sớm thì muộn sự thật cũng được phơi bày. Xin dẫn lời một người thầy đáng kính từng dạy chúng tôi môn Tối Ưu Hóa đã “răn đe” đám sinh viên hiếu thắng của mình rằng: “Khác với các các môn nghệ thuật, vay mượn là một điều khó có thể chấp nhận được. Tuy nhiên trong kỹ thuật, các anh có thể đứng trên vai của người khác để làm công việc của mình. Vì thế, các anh phải luôn biết rằng mình đang đứng trên vai của người khác chứ đừng tưởng rằng mình đang đứng trên mặt đất”.

Tham khảo:
(1) Steven Jobs là CEO của hãng Apple (Công ty chế tạo và sản xuất các sản phẩm iPod, iPhone, iPad… thời thượng)
(2) Nguồn vi.wikipedia.com
(3) NLCVN (NextLevel Communication VietNam): Thành lập vào khoảng cuối năm 1999 tại Việt Nam với khoảng gần 100 kỹ sư HW & SW chuyên về các sản phẩm viễn thông. Bao gồm các nhóm Board Level, Layout, Logic Design, Firmware, Software, System…
(4) ATVN (Arrive Technologies VietNam): Thành lập vào khoảng năm 2001 với thành phần nòng cốt là các kỹ sư từ NLCVN. Trang web www.arrivetechnologies.com
(5) Bài viết về phát biểu của giáo sư Michael Porter trên báo Tuổi Trẻ: http://tuoitre.vn/Kinh-te/290600/Nhan-cong-gia-re%C2%A0khong-con-la-loi-the-canh-tranh.html


Advertisements

Về Thời Sự Công Nghệ
Chấp nhận thay đổi hay lạc hậu muôn đời!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: